Tác dụng: Tập trung chú ý, kích thích những vùng não kém phát triển, điều hòa sự phát triển của hai bán cầu não, tăng cường khả năng quan sát, khả năng tưởng tượng và khả năng tư duy logic.6. Voi con đi dạo
Tác dụng: Tập trung sự chú ý, tạo sự cân bằng cho hai bán cầu não, rèn luyện khả năng nhớ. Nâng cao khả năng điều tiết và khả năng gieo vần trong cách nói. Tăng cường khả năng tư duy hình tượng và năng lực tưởng tượng cho trẻ.
Khẩu lệnh
Hai chú voi cùng đi dạo, chiếc vòi cong cong ở trên đầu.
♦ Trường hợp 1: Dùng một bàn tay.
Độ khó: 





Đặt ngón cái, ngón trỏ, ngón áp út và đầu móng ngón áp út của một bàn tay lên trên mặt bàn, tạo thành hình giống với bốn chiếc chân của chú voi con; ngón giữa hướng lên trên khỏi mặt bàn, tạo thành hình giống như chiếc vòi của chú voi.
Động tác một: Ngón trỏ tiến về phía trước một bước, đồng thời nói “một con”.
Động tác hai: Ngón áp út tiến vể phía trước thêm một bước và nói “Voi”.
Động tác ba: Ngón cái tiếp tục tiến về phía trước thêm một bước rồi nói “đi”.
Động tác bốn: Ngón út tiến về phía trước thêm một bước nữa rồi nói “dạo”.

Động tác năm: Ngón giữa lắc lư về hai bên trái phải đồng thời nói “chiếc vòi cong cong”.
Động tác sáu: Ngón giữa liên tiếp chấm đầu ngón tay xuống mặt bàn hai lần và nói “ở trên đầu”.
♦ Trường hợp 2: Dùng hai bàn tay.
Độ khó: 







Hai bàn tay làm động tác giống như ở trường hợp một.
♦ Trường hơp 3: 









Hai bàn tay ở tư thế chuẩn bị như trường hợp 1.
Động tác một: Ngón trỏ bàn tay phải và ngón áp út bàn tay trái cùng tiến về phía trước một bước, đồng thời nói “hai con”.
Động tác hai: Ngón trỏ bàn tay trái và ngón áp út bàn tay phải cùng tiến về phía trước một bước, đồng thời nói “voi”.
Động tác ba: Ngón cái bàn tay phải và ngón út bàn tay trái cùng tiến về phía trước một bước nữa, đồng thời nói “cùng nhau”.
Động tác bốn: Ngón cái bàn tay trái và ngón út bàn tay phải cùng tiến về phía trước một bước nữa rồi nói “đi dạo”.
Động tác năm: Hai ngón tay giữa của cả hai bàn tay liên tiếp co lại hai lần, đồng thời nói “chiếc vòi cong cong”.
Động tác sáu: Hai ngón tay giữa của cả hai bàn tay liên tục chạm xuống mặt bàn hai lần và nói “ở trên đầu”.
7. Chú lừa đáng yêu
Tác dụng: Tập trung sự chú ý, tạo sự cân bằng cho hai bán cầu não, rèn luyện khả năng ghi nhớ. Nâng cao khả năng điều tiết và khả năng gieo vần trong cách nói. Tăng cường khả năng tư duy hình tượng và năng lực tưởng tượng cho trẻ.
Độ khó: 




Khẩu lệnh
Tôi là chú lừa nhỏ, thích ăn cỏ xanh, rất nghịch ngợm,
Hai bàn tay duỗi thẳng ra và úp hai lòng bàn tay vào nhau sao cho bốn ngón trỏ, giữa và ngón áp út trên hai bàn tay dính chặt vào nhau, đầu bốn ngón tay hướng về phía trước. Ngón áp út và ngón út tách nhau ra để tạo thành hình giống như miệng chú lừa; Hai ngón cái tách hẳn ra về phía bên trên, hình thành đôi tai của chú lừa.

(1) Ngón út và ngón áp út khép vào mở ra liên tiếp hai lần, để thế hiện miệng chú lừa đang mở ra và ngậm lại, cùng với những động tác ấy chúng ta nói “tôi là chú lừa”.
(2) Hai lòng bàn tay hướng vào nhau xuống dưới, bốn ngón tay ep chặt vào nhau, một bàn tay đặt trên bàn tay còn lại, hai ngón tay cái vừa ép vào nhau vừa kéo về trước và sau hai lần, làm như vậy để biểu thị cho đôi tai của chú lừa đang lắc lư, cùng với điều đó chúng ta nói ‘chú lừa nhỏ”.
(3) Lặp lại động tác (1), đồng thời nói “thích ăn cỏ xanh”.
(4) Lặp lại động tác (1), nhưng hai bàn tay lúc này đã đổi vị trí trên dưới cho nhau, đồng thời nói “rất hiếu kỳ”.
8. Chim ưng và gà con
Tác dụng: Tập trung sự chú ý, tạo sự cân bằng cho hai bán cầu não, rèn luyện khả năng ghi nhớ. Nâng cao khả năng điều tiết và khả năng gieo vần trong cách nói. Tăng cường khả năng tư duy hình tượng, khả năng mô phỏng và năng lực tưởng tượng cho trẻ.
Độ khó: 








Khẩu lệnh
Chim ưng bay bay, gà con chạy chạy, chạy vào chuồng mẹ, chim ưng bay lẹ.
Chim ưng: Lòng bàn tay của hai tay úp xuống phía dưới, lấy sức căng ngón cái và ngón út của bàn tay hướng sang hai bên tạo thành hình đôi cánh của chim ưng; Đặt ngón trỏ lên trên ngón áp út, rồi đặt ngón giữa lên trên ngón trỏ, chụm ba ngón tay lại thành một khối chắc chắn để tạo thành chiếc mỏ cong vút của chim ưng.
Gà con: Đặt hai ngón trỏ và ngón áp út sát vào nhau, sau đó đặt ngón giữa lên trên hai ngón trên để giả làm đầu gà con; đặt hai đầu ngón cái và ngón út lên trên mặt bàn tạo thành hai chân của gà con.
(1) Dùng sức của bàn tay làm động tác chim ưng bay từ trên xuống, đồng thời nói: “Chim ưng bay bay”.
(2) Còn tay làm chú gà con thì trước tiên hãy đưa ngón út tiến về phía trước một bước, ngón tay cái cũng tiến về phía trước một bước nữa, cùng lúc đó chúng ta nói “gà con chạy chạy”.
(3) Dùng bốn ngón tay chống lên tạo thành hình một chiếc chuồng gà nhỏ có mái cong cong, ngón cái liền giả như là chú gà con chạy ngay vào trong chuồng gà nhỏ, đồng thời nói “chạy vào chuồng mẹ”.
(4) Bàn tay giả làm chim ưng liền bay về phía trước hai lần, rồi nói “chim ưng bay lẹ”.

9. Rết và gà con
Tác dụng: Tập trung cú ý, kích thích những vùng não kép phát triển, điều hòa sự phát triển của hai bán cầu não, tăng cường khả năng quan sát, khả năng tưởng tượng và khả năng tư duy logic.
Độ khó: 



Một tay nắm hờ, lòng bàn tay hướng xuống dưới, ngón trỏ duỗi thẳng; bàn tay còn lại, các ngón ta duỗi ra, bốn ngón con đè lên ngón trỏ của bàn tay kia, lần lượt đang chéo nhau hình chữ thập, trông giống như hình con rết. Đầu ngón cái và ngón trỏ ép sát vào nhau tạo thành chiếc mỏ xinh xắn của chú gà con, ba ngón còn lại mở thẳng tự nhiên.
(1) Ngón trỏ của bàn tya trái duỗi thẳng, bốn ngón con của bàn tay phải đặt trên ngón trỏ của bàn tay trái, miệng nói: “con rết”.
(2) Đưa ngón trỏ của bàn tay trái lên, cùng với ngón cái tạo thành chiếc mỏ xinh xắn của chú gà con, dùng ngón trỏ của bàn tay phải tượng trưng cho chân rết, đưa “chiếc mỏ” lên mổ, đồng thời miệng nói: “gà con”.
(3) Ngón trỏ của bàn tay phải duỗi thẳng, bốn ngón con của bàn tay trái đặt lên trên, miệng nói: “con rết”.
(4) Đưa ngón trỏ của bàn tay trái lên, cùng với ngón cái tạo thành chiếc mỏ xinh xắn của chú gà con, dùng ngón trỏ của bàn tay trái tượng trưng cho chân rết, đưa “chiếc mỏ” lên mổ, đồng thời miệng nói: “gà con”.

10. Chú mèo con
Tác dụng: Tập trung chú ý, điều hòa sự phát triển của hai bán cầu não, tăng cường khả năng quan sát, khả năng tưởng tượng, khả năng tư duy logic, đặc biệt là khả năng tu duy toán học.
Độ khó: 





Khẩu lệnh
Một chú mèo ăn hai con cá, ba con cáo cắn bốn con gà, năm con lạc đà chạy cùng sáu con ngựa, bảy con sói đuổi tám con bò, chín quả trứng nở ra mười con vịt, hai quả trứng nở ra đôi chim non.
(1) Giơ ngón trỏ của bàn tay trái biểu thị cho số 1, đồng thời, giơ con trỏ và ngón út của bàn tay phải lên, trông giống như đầu của chú mẻo, hai lòng bàn tay hướng vào nhau (nói: “chú mèo con”); lòng bàn tay phải hướng sang trái, duỗi ngón trỏ và ngón giữa biểu thị số 2, đồng thời, lòng bàn tay trái hướng xuống phía bàn tay phải đang uốn lượn trông giống như con cá đang bơi lội (nói: “ăn hai con cá”).
(2) Giơ ba ngón tay của bàn tay trái lên biểu thị cho số 3, đồng thời, giơ ngón trỏ và ngón út của bàn tay phải, biểu thị cho chiếc tai của con cáo, hai lòng bàn tay hướng vào nhau (miệng nói: “ba con cáo”); lòng bàn tay phải hướng sang trai, bốn ngón con duỗi thẳng biểu thị cho số 4, đồng thời, các đầu ngón tay của bàn tay trái chụm lại hướng lên trên, lòng bàn tay hướng sang phải, ngón cái và ngón trỏ khép lại tạo thành chiếc mỏ của chú gà con (miệng nói: “cắn bốn con gà”).

(3) Bàn tay trái, mở lòng bàn tay hướng sang bên phải, biểu thị cho số 5, đồng thời, bên bàn tay phải, ngón trỏ kẹp vào giữa ngón giữa và ngón áp út để biểu thị cho chiếc đầu lạc đà (miệng nói: “năm con lạc đà); lòng bàn tay phải hướng sang bên trái, ngón cái và ngón áp út duỗi thẳng biểu thị cho số 6, đồng thời, bên bàn tay trái, ngón trỏ kẹp vào giữa ngón giữa và ngón áp út, tượng trưng cho dầu ngựa, ngón cái và ngón áp út hướng xuống dưới trông giống như chân ngựa (miệng nói: “chạy cùng sáu con ngựa”).
(4) Lòng bàn tay trái hướng sang phải, ngón cái và ngón trỏ kết hợp thành hình biểu thị cho số 7, đồng thời, ngón cái và ngón giữa ép sát vào nhau, ngón trỏ cùng với ngón áp út và ngón út duỗi thẳng lên trên giống như đầu con sói (miệng hô: “bẩy con sói nhỏ”); ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải biểu thị cho số 8, đồng thời đưa bàn tay hướng lên trên, dơ ngón cái và ngón trỏ ra tượng trưng cho đầu bò (miệng nói: “đuổi 8 con bò”).
(5) Ngón trỏ của bàn tay trái duỗi uốn cong, giống như số 9, đồng thời bàn tay phải nắm lại tượng trưng cho quả trứng vịt (miệng hô: “Chín quả trứng vịt”); đưa hai ngón trỏ chéo nhau tạo thành hình chữ thập, biểu thị cho số 10 (miệng nói: “nở ra mười con vịt”).
(6) Hai lòng bàn tay hướng vào nhau, đồng thời ép sát vào trông giống như hai quả trứng vịt (miệng hô: “hai quả trứng”); ở cả hai bàn tay, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa duỗi ra rồi co lại hai lần tượng trưng cho chú chin non (miệng hộ: “nở ra đôi chim non”).

Theo mangthai